Ad

 
Thứ Ba, ngày 05 tháng 5 năm 2015

Phát triển các ngành kinh tế ở Liên Xô

- Cải tiến sự lãnh đạo tập trung theo kế hoạch, nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hóa, đổi mới hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh để kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp; xác định mối quan hệ giữa kể hoạch triển vọng, kế hoạch dài hạn và kế hoạch ngán hạn.
- Tăng cường các phương pháp viết thuê luận văn tiến sĩ kinh tế trong quản lý và vai trò của các đòn bẩy kinh tế nhằm khuyến khích người lao động, các xí nghiệp sản xuất quan tâm đến việc phát huy khả năng tiềm tàng của mình để tạo ra nhiều sàn phẩm cho xã hội.
Cải cách kinh tế cũne có tác dụng nhất định nhưng kết quả đạt được không như mong muốn. Thực tế, cài cách chưa động chạm đến vấn đề gốc rễ của các quan hệ kinh tế là vấn đề sở hữu. vấn đề sản xuất hàng hỏa, thị trường chưa được coi trọng. Tìph trạng bao cấp cả trong sản xuất và tiêu dùng vẫn diễn ra tràn lan. Những vấn đề đó chính là rào càn làm hạn chế kết quả của cải cách.

* Đến năm 1975, nhìn vào sự phát triển kinh tể của Liên Xô cho thấy:

- Công nghiệp được tiếp tục phát triển theo hướng hoàn thiện kỹ thuật, tiếp tục thực hiện kế hoạch điện khí hóa, cơ khí hóa, tự động hóa và hỏa học hóa. Năm 1975 so với năm 1940, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng lên 17 lần và trong thời gian từ 1961 đến 1975 đạt nhịp độ phát triển hàng năm khoảng 8%, trong đó các ngành công nghiệp nặng hiện đại tiếp tục phát triển nhanh. Các sản phẩm chủ yếu của công nghiệp nặng được tăng mạnh như: điện tăng từ 48,6 tỷ Kwh năm 1940, lên 1.039,0 tỷ kwh năm 1975; dầu và hoi đốt từ 31,1 ứiệu tẩn lên 491,0 triệu tấn; than từ 166,0 triệu tấn lên 701.0 triệu tấn; thép từ 18,3 triệu tấn lên 141,0 triệu tấn trong những năm tương ứng.
Trong các ngành công nghiệp nặng có những điểm nổi bật như: Liên Xô đã xây dựng được Nhà máy điện lớn nhất thế giới (Vôngagrát), sử dụng dịch vụ viết thuê luận văn tiến sĩ năng lượng điện nguyên tử, sản xuất thép chất lượng cao; về cơ sở nguyên liệu đã phát hiện thêm được nhiều mỏ kim loại và các mỏ khác, nhất là dầu và khí đốt, đã phát hiện ra 3/4 trữ lượng khí đốt trong kế hoạch 5 năm lần thứ tám (1965-1970); ngành cơ khí được ữang bị lại, việc sản xuất các dụng cụ hiện đại, dây chuyền tự động, máy tính điện tử được mở rộng. Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới phóng thành công vệ tinh nhân tạo của quả đất (4-10-1957) và Liên Xô đã chế tạo thành công tên lửa vũ trụ, tàu nguyên tử phá băng. Liên Xô đã đứng đầu thế giới về nhiều ngành sản xuất quan ừọng: xi măng, than đá, quặng sắt, thép, phân khoáng, dầu mỏ...
Dịch vụ viết thuê luận văn tiến sĩ http://luanvan1080.com/chap-but-luan-van-tien-si/dich-vu-viet-thue-luan-van-tien-si.html
Read more...
0 nhận xét
Thứ Hai, ngày 06 tháng 4 năm 2015

Mở rộng sản xuất hàng loạt và sự hình thành các tổ chức kinh doanh lớn

Trong thời kỳ này, động cơ hơi nước và nguồn năng lượng từ than đá đã thay thế các động cơ chạy bằng sức nước và nguồn năng lượng lượng có được từ gỗ của thời kỳ cách mạng công nghiệp. Năm 1869, động cơ hơi nước chi chiếm khoảng 1/2 tổng số công suất của các nhà máy chế tạo thì đến cuối thế kỷ XIX, động cơ hơi nước chiếm '4/5. Năm 1860, than chiếm 16,4%, còn gỗ chiếm tới 83,5% trong tổng năng lượng tiêu dùng ờ Mỹ thì đến năm 1910, năng lượng tiêu dùng từ than chiếm tới 76,8%, còn gỗ chỉ còn 10,7%. Vào đầu năm 1900, các nhà bắt đầu chuyển sang sử dụng năng lượng điện1.

- Mở rộng sản xuất hàng loạt và sự hình thành các tổ chức kinh doanh lớn

Sản xuất hàng loạt đòi hỏi các bộ phận sản phẩm được chuẩn hóa và có thể thay thế đã thúc đẩy việc tập trung sản xuất lớn và tích tụ tập trung tư bản. Đặc biệt, sự xuất hiện của các tờ-rớt đã góp phần quan trọng vào sụ phát triển kinh tế Mỹ thời kỳ này.
Hình thức tổ chức của tờ-rớt là có ban quản trị được trao quyền quản lý tài sản của các công ty gia nhập vào tờ-rớt, các công ty sẽ ủy thác cho ban quản trị và nhận chứng chỉ ủy thác với giá trị tương đương, song khi đã gia nhập thì không có quyền rút khỏi tờ-rớt. Ban quản trị có quyền ra quyết định quản lý bao gồm cả việc đóng cửa những nhà máy ừong tờ-rớt khi hoạt động không có hiệu quả, mở rộng và hiện đại hóa các nhà máy hoạt động hiệu quả nhất. John D. Rockefeller và các hội viên của Standard Oil năm 1882 đã có sáng kiến thành lập ra hình thức tổ chức này. Thực tiễn phát triển kinh tế ở Mỹ cho thấy, sự thành công cùa các tập đoàn này là do nó có ảnh hưởng chi phối trong ngành của mình, thông qua việc quản lý tập trung để hợp lý hóa quá trình sản xuất ban times city, đầu tư công nghệ gắn với sản xuất hàng loạt để đạt được tính hiệu quả theo quy mô, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với việc bán hàng và phân phối để sản xuất sản phẩm ở mức giá thấp. Từ các tập đoàn này hình thành các độc quyền nhóm.
Bên cạnh sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Mỹ vẫn tồn tại và phát triển, hoạt động chủ yếu ữong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Ngay cả trong lĩnh vực chế tạo, các doanh nghiệp nhỏ vẫn tim dược “ngách” để phát triển sản xuất có hiệu quả mà không phải cạnh tranh trực tiếp với những “hãng khổng lồ”. Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần gia tăng nguồn vốn đầu tư và khai thác mọi tiềm năng cho phát triển kinh tế.
Read more...
0 nhận xét